Bạn đang theo dõi bài viết chủ đề về Sa sâm: loại nhân sâm quý được trồng từ cátcung cấp tại Công Đông Ymong rằng sẽ giúp ích nhiều cho bạn trong cuộc sống và chăm sóc sức khỏe.
Giới Thiệu Chung:
Sa sâm có hai loại là Sa sâm nam và Sa sâm bắc, chúng đều có những công dụng sau: Chữa phong nhiệt, ho khan, ho mãn tính, lao phổi có đờm lẫn máu.
Thông Tin Dược Liệu
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Sa sâm.
Tên khác: Sa sâm Bắc, Sâm cát, Bạch sâm, Xà lách biển, Sa sâm nam. Hải cúc.
Tên khoa học: Glehnia littoralis F. Schmidt ex Miq.
Đặc điểm tự nhiên
Sa sâm là loại cây thân thảo sống lâu năm, chiều cao cây trung bình từ 15 – 25cm. Rễ mềm, mọc thẳng và có màu vàng nhạt. Thân mọc đối, mỗi đốt có khoảng 2 – 3 đốt.
Lá dài, có lông, có 6 – 7 thùy, dài trung bình 4 – 8cm. Các lá gốc được xếp thành hình hoa thị xung quanh thân cây. Các mép lá không đều và có răng cưa thưa. Hoa mọc ở gốc và cuống ngắn, màu vàng. Quả đóng, hơi thuôn nhọn ở đầu, dài 4 mm.
Phân bố, thu hái, chế biến
Sa sâm nam
Chỉ phân bố ở ven biển và các đảo lớn, từ Quảng Ninh, Hải Phòng đến Đồng Nai. Cây cũng được tìm thấy ở các vùng ven biển phía nam Trung Quốc (đảo Hải Nam), Ấn Độ, Ai Cập và một phần của Châu Phi.
Vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè năm sau, chồi mới sẽ mọc khắp rễ và gốc. Cây ưa sáng, chịu mặn, thường gặp ở các bãi cát ven biển, mọc thành cụm hoặc mọc rải rác thành từng cụm riêng lẻ với một số vị thuốc khác như rau muống biển, rau ngổ, dừa cạn, củ gấu biển … ăn quả hàng năm; quả chùm ngây có lông. có lợi cho việc phân tán gió.

Sa sâm bắc
Có nguồn gốc từ Đông Á, nó được trồng rộng rãi ở Trung Quốc và Nhật Bản. Đầu những năm 1960, cây được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam, cây trồng tại Trại cây thuốc Sapa (Viện Nghiên cứu cây thuốc) đã thích nghi và cho quả, hạt già rơi xuống đất tự nảy mầm. Tuy nhiên, gần đây cây bị mất giống do không được chú trọng nghiên cứu và phát triển.
Thu hái vào mùa hè hoặc mùa thu, đào bỏ rễ, cắt bỏ thân và bỏ rễ, rửa sạch, phơi nắng hoặc đông lạnh hoặc sấy khô cho đến khi se lại, ngâm trong nước sôi, bóc vỏ, phơi nắng hoặc đông lạnh. Khi dùng loại bỏ tạp chất và các phần cơ thể còn sót lại, hơi mềm rồi cắt thành từng đoạn.

Bộ phận sử dụng
Rễ.
Thành phần hoá học
Củ sâm bắc có chứa tinh dầu, axit triterpene, alkaloids-carbolines, phenylpropanes, phenolic acid, polyacetylenes, và axit béo. Quả chứa pterin màu nâu, dầu béo, axit, axit petroselinic.
Rễ của cây sâm nam có chứa alcaloid, axit amin, carbohydrate, glycosid, tanin và steroid.
Công dụng
Theo y học cổ truyền
Sa sâm bắc
Sâm bắc có vị ngọt, hơi đắng, tính hơi lạnh, thuộc quy kinh lạc hai vị.
Công dụng: Chữa phế nhiệt, ho khan, ho mãn tính, lao phổi ra máu.
Sa sâm nam
Nhân sâm có vị ngọt, nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng dưỡng can, mát phổi, trị ho, long đờm, lợi sữa, làm ẩm ruột và chữa táo bón, lợi tiểu.
Công dụng: Lá sâm nam được dùng làm rau sống như salad hoặc nấu canh. Toàn cây tươi được sử dụng như một chất hỗ trợ tiết sữa ở người và gia súc. Toàn cây hoặc lá, giã nát dùng để chữa đau khớp do sứa biển chạm vào sứa biển. Hoàng bá khô trị sốt, khô phổi, ho khan và long đờm. Đối với thuốc nhuận tràng, lợi tiểu, bạn có thể dùng rễ, không.
Theo y học hiện đại
Polysaccharides trong Panax ginseng có tác dụng chống ung thư mạnh bằng cách ức chế sự di chuyển, tăng sinh và chết của tế bào ung thư phổi.
Liều dùng & cách dùng
Sa sâm được dùng chủ yếu dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác tùy theo mục đích sử dụng. Chỉ sử dụng 10 – 15 gam mỗi ngày.

Bài thuốc kinh nghiệm
Trị ho do lao, viêm phế quản mãn tính, nhuận táo
Phối hợp với Tang diệp, Mạch môn đông.
Dùng bài Sa sâm Mạch môn đông ẩm (Ôn bệnh điều biện): Sa sâm 12g, Ngọc trúc 12g, Mạch môn đông 9g, Hoa phấn 8g, Sinh Biển đậu 8g, Tang diệp 8g, Cam thảo 4g, sắc uống.
Nếu ho lâu ngày gia Địa cốt bì 6g.
Điều trị các bệnh viêm nhiễm
Có nhiều triệu chứng khô như: Khô họng, khát nước, táo bón, thường phối hợp với mạch môn, sinh khương.
Dùng bài ích phế thang (ôn và chữa): Sa sâm 16g, Sinh địa 20g, Ngọc trúc 12g, Mạch môn 12g, cho thêm đường phèn 20g, sắc uống.
Điều trị ngứa da
Thường dùng phối hợp với Ngọc trúc, Mạch môn.
Lưu ý
Nếu không phải là âm hư phổi táo, ho thuộc hàn thì không nên dùng.
Không dùng chung Sa sâm với Lê lô.
Nguồn Tham Khảo:
Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
Viện Dược liệu (2006). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
Dược điển Việt Nam.
Hoàng Duy Tân (2006). Đông dược học.
Đỗ Huy Bích (2006). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật.
Mong rằng với những thông tin của bài viết sẽ giúp bạn hiểu hơn về các loại dược liệu và cách sử dụng chúng đúng cách nhé. Hãy nhớ hỏi ý kiến của chuyên gia, bác sĩ cụ thể trước khi sử dụng các vị thuốc thảo dược nhé. Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo chúng tôi không chịu trách nhiệm về nội dung này.